Một số cầu xin có thể được đáp ứng, nhưng cũng có những việc chỉ nghe mà thôi. Ví dụ: nếu một người cầu xin trí huệ sáng suốt để biết cách hành xử, hay cầu xin sự vững chí, can đảm, những điều này Phật và Bồ Tát có thể trợ giúp. Nhưng nếu cầu trúng vé số thì sao? Việc đó còn tùy thuộc vào phước báu của người đó. Hay cầu tìm gặp người bạn đời vừa ý cũng còn tùy vào nghiệp lực, làm sao Phật Trời có thể đi tìm cho họ một người vừa ý được?
Đôi khi, việc cầu xin lại mở ngõ và trực tiếp chiêu cảm nghiệp lực. Ví dụ, nếu một người cầu xin có được người chồng, khi khởi tâm cầu, những dây tơ rễ má tình duyên trong hiện đời, cùng với những người có duyên với họ, sẽ có rung động, tạo cơ hội gặp gỡ. Như vậy, cầu xin đã mở ngõ cho nghiệp lực đến với người đó.
Tóm lại, cầu xin phải là những điều chánh đáng, có mục đích rõ ràng, không xuất phát từ Tự Ái hay thỏa mãn ích kỷ.
Chúng sanh thường có khuynh hướng hay cầu xin: cầu xin cho mình được điều này, cầu xin cho mình được điều kia, cầu xin cho mình được thăng chức. Riêng đối với việc thăng chức, chúng sanh cần phải nhớ rằng điều này đòi hỏi rất nhiều điều kiện:
- Người đó phải siêng năng làm việc.
- Người đó phải có nhiều năng khiếu trong lĩnh vực công việc mà mình đảm trách.
- Người đó phải có mối quan hệ tốt đẹp với cấp chỉ huy của mình.
- Người đó phải cố gắng đem lại kết quả tốt đẹp cho công việc chung của tất cả mọi người, chứ không phải chỉ cho riêng một cá nhân nào.
Nhưng người cầu xin được thăng chức ấy lại thiếu tự tin và nghĩ rằng, nếu phải chu toàn đầy đủ những điều kiện cần yếu như vậy thì e rằng mình không thể thực hiện một cách tốt đẹp. Trong khi đó, lại có quá nhiều ứng viên cho chức vụ ấy, nên người ấy mới sinh tâm cầu xin.
Cần phải nhớ một điều rằng: khi cầu xin, Chư Phật và Bồ Tát không thể “bốc” người đó lên rồi đặt họ vào công việc; điều ấy là không thể. Tuy nhiên, Chư Phật và Bồ Tát vẫn lắng nghe lời cầu xin ấy và biết rằng người đó vốn có khả năng, chỉ vì thiếu tự tin mà thôi. Vì vậy, Chư Phật và Bồ Tát sẽ trợ giúp để người đó được vững chí hơn, vững tin hơn. Nếu người đó phải trải qua một cuộc phỏng vấn với cấp chỉ huy về công việc ấy, thì sẽ cảm thấy tự tin hơn, chắc chắn hơn, không còn e dè hay sợ sệt.
Sự trợ giúp đối với những lời cầu xin như vậy vẫn có thể được chấp nhận, và Chư Phật cùng Bồ Tát có thể gia hộ. Bởi đó là sự giúp đỡ nhằm tạo nên một lực đẩy, giúp người ấy tiến gần hơn đến công việc, chứ không phải thay thế hay làm thay cho họ.
Còn đối với những người cầu xin cho con trúng số, cho con mua được căn nhà này hay món đồ kia… những sự cầu xin ấy phần lớn mang nặng tính tự ái và ngã mạn. Trong những trường hợp đó, lời cầu xin thường không đem lại kết quả, bởi ngay trong bản chất của nó đã tồn tại rào cản; và chính rào cản ấy khiến cho những mong cầu không thể tiến gần đến sự thành tựu.
Một người do tánh tham chi phối nên mong có nhiều tiền mà không muốn bỏ công sức lao động. Với tâm niệm như vậy, dù cho họ có ôm về nhà muôn bạc vạn, họ cũng không biết trân quý đồng tiền ấy, mà sẽ phung phí vào những việc không mang lại lợi ích, cho đến khi tiền của cạn kiệt. Nếu họ biết dùng số tiền ấy để chia sẻ, giúp đỡ những người kém may mắn, thiếu ăn thiếu mặc thì còn có thể chấp nhận được; nhưng nếu họ sử dụng tiền bạc để ăn chơi hưởng thụ, sa vào trà đình tửu điếm, làm những việc không tốt đẹp, mờ ám, thì việc giúp cho họ trúng số chẳng khác nào tiếp tay, thêm vây thêm cánh cho tánh tham của họ. Trong trường hợp ấy, sự cầu xin tất nhiên không thể có kết quả.
Cũng có khi có người cầu xin được trúng số với ý định dùng số tiền ấy để làm việc phước thiện, nhưng điều đó vẫn không được chấp nhận. Bởi lẽ, đồng tiền được gọi là dùng vào việc phước thiện thì trước hết phải xuất phát từ sự rung động chân thật trong tâm, từ lòng xót xa và cảm thông sâu sắc của chính người ấy trước nỗi khổ của kẻ khác. Thứ hai, đồng tiền ấy phải là đồng tiền do chính sức lao động chân chánh của người đó tạo nên, và trong hoàn cảnh hiện tại, người ấy sẵn lòng chia sẻ một phần cho những người kém may mắn hơn mình. Chỉ khi hội đủ như vậy, sự rung động mới là chân thật. Vì không thấy được sự rung động ấy, nên người đời thường đánh giá sai, chỉ nhìn vào những hình thức bề ngoài, màu mè của việc từ thiện.
Một người thật sự có lòng rung động là người dám bớt đi phần ăn của chính mình: thay vì ăn nguyên một chén cơm thì chỉ ăn nửa chén, thay vì ăn nguyên một con cá thì chỉ ăn nửa con, để dành phần còn lại cho người khác cùng ăn với mình, cùng dùng chung một thức ăn như nhau. Người ấy không để kẻ khác phải ăn cơm thừa canh cặn, hay những thức ăn kém phẩm chất hơn mình. Ví dụ, nếu tôi nấu hai nồi cơm: một nồi bằng gạo ngon, một nồi bằng gạo mốc, gạo sâu; vì tiếc của nên đem gạo xấu nấu lên rồi cho người khác ăn, thì nhìn bề ngoài có vẻ là từ thiện, nhưng thật ra không những không phải từ thiện mà còn thêm tội, vì có thể đem bệnh tật đến cho người khác mà bản thân mình lại không để tâm đến. Do đó, nếu không có sự rung động chân thật từ nội tâm, thì không thể xem đó là biểu hiện của một Tâm Lành.
Có nhiều người cầu xin được trúng số để lấy tiền làm việc phước thiện, như xây nhà tình thương v.v… Điều này không được chấp nhận. Đặc biệt, không nên dùng tiền trúng số để làm việc phước thiện, bởi vì khi một người trúng số là đã gom về cho mình những phần không may mắn của người khác, rồi lại đem những điều không may mắn ấy ban phát trở lại cho người khác. Người ta đã khổ, mà mình còn trao cho họ phần không may mắn, thì điều đó là không nên.
Tuy nhiên, nếu một người vẫn muốn sử dụng tiền trúng số vào việc từ thiện, thì người ấy phải phát nguyện rất sâu dày để chứng tỏ rằng mình thật sự có Tâm Lành. Người ấy phải tự biết rằng sức mình không đủ để tạo ra số tiền lớn như vậy; số tiền có được chỉ là do một sự ngẫu nhiên tình cờ. Vì vậy, người ấy phải nguyện không sử dụng đồng tiền ấy cho mục đích cá nhân, và cũng không xem đó là tiền của riêng mình.
Người ấy phải khấn nguyện rằng: đây là tấm lòng chung của tất cả những người đã góp phần vào việc mua vé số, nay được dùng để giúp đỡ những người kém may mắn hơn; và hồi hướng công đức ấy cho tất cả những người đã tham dự. Ví dụ, nếu giải độc đắc là một triệu, và có tổng cộng năm mươi người cùng tham dự mua vé số, thì công đức của việc làm từ thiện ấy phải được hồi hướng đầy đủ cho năm mươi người đó, hoàn toàn không có một chút tư ý nào cho bản thân mình. Số tiền ấy không phải là tiền của riêng mình, mà là tiền của chung; mình chỉ là người đại diện đứng ra phân phối tiền bạc, thực phẩm, hay vật dụng cho người cần đến, chứ không phải nhân danh cá nhân mình để làm.
Chỉ trong trường hợp như vậy thì mới có thể sử dụng số tiền ấy. Tuy nhiên, trên thực tế, tiền trúng số, tiền cờ bạc, hay tiền thu được từ những nguồn không chánh đáng thường mang theo một ma lực rất mạnh, lôi kéo người cầm tiền ấy làm những điều không tốt đẹp. Vì vậy, rất khó giữ được tiền trúng số để dùng vào việc xây chùa, xây nhà thờ hay làm việc phước thiện, bởi ma lực ấy khiến cho người ta không giữ được tiền. Điều đó gọi là “của Thiên trả Địa.”
Do đó, nếu không có những lời nguyện sâu dày như trên, thì tấm lòng của mình sẽ không có sự rung động chân thật đối với việc mình làm, và sự cầu mong ấy sẽ không đem lại kết quả tốt đẹp. Chúng sanh thường nghĩ rằng: “Nếu tôi trúng số, tôi sẽ đem tiền ấy xây chùa, cất miễu, xây nhà thờ, làm phước thiện.” Nhưng thực tế, việc chưa thành thì tiền đã tiêu pha gần hết, rồi sau đó cũng không còn lại bao nhiêu trong tay mình.
Nói về vấn đề cầu xin, có thể nói rằng chúng sanh cầu xin đủ mọi điều; càng nghèo thì càng xin nhiều, giàu thì xin những thứ khác, nghèo lại xin những thứ khác. Tuy nhiên, trước khi quỳ xuống để cầu xin, mỗi người cần phải tự xét lại thực chất của lời cầu xin ấy là gì.
Hãy hình dung một đứa trẻ đang quỳ trước tôn tượng Phật và Bồ Tát, với một người mẹ bệnh nặng, không đủ tiền chạy chữa. Đứa trẻ ấy đem hết tấm lòng tha thiết của mình để cầu xin sự gia hộ của Chư Phật và Bồ Tát. Ta thử phân tích thực chất của lời cầu xin này.
Trước hết, đó chỉ là một đứa trẻ; việc chăm sóc một người bệnh nặng vốn không phải là trách nhiệm của một đứa trẻ. Thế nhưng, trong hoàn cảnh ấy, nó vẫn gánh lấy trách nhiệm đó: phải vất vả chăm nom mẹ uống thuốc, ăn uống, vượt qua cơn bệnh hoạn; lại còn phải lao động để kiếm sống, có tiền mua thức ăn, thuốc men cho mẹ. Đó là một sự hy sinh vô cùng lớn lao.
Đây chính là nghiệp lực của một con nợ đối với một chủ nợ. Đứa trẻ ấy không hề biết rằng mình đang thanh toán món nợ nghiệp lực đối với mẹ, nhưng trong thâm tâm, nó thật sự muốn trả cho tròn, muốn hoàn tất món nợ ấy. Nó giữ trọn đạo hiếu, làm tròn bổn phận làm con, tận tình chăm sóc mẹ qua cơn bạo bệnh, không ngại gian nan, khổ cực. Bao nhiêu gánh nặng dồn lên đôi vai nhỏ bé, nhưng nó vẫn kiên trì gánh vác, quyết không bỏ rơi mẹ để đi tìm sự an nhàn, sung sướng cho riêng bản thân mình.
Chính vì vậy, trong những trường hợp như thế, Phật và Bồ Tát sẽ tận tình gia hộ, giúp cho đứa trẻ ấy có thêm duyên lành để kiếm được tiền từ công việc của mình, đủ để mua thuốc men, giúp mẹ vượt qua cơn bệnh hoạn.
Phần lớn những lời cầu xin của chúng sanh đều nhằm thỏa mãn chữ “muốn”. Đã cầu xin thì tất nhiên phải có “muốn”; không có “muốn” thì lấy gì để cầu xin? Do đó, điều quan trọng là phải suy gẫm lại bản chất của cái muốn ấy. Nếu thấy nó hợp tình, hợp lý, thì hãy cầu xin; còn nếu thấy nó không hợp tình, hợp lý, thì thôi, đừng cầu xin làm gì cho mất thời gian, rồi lại lỉnh kỉnh mang lễ vật đến chùa, làm đủ mọi nghi thức, tốn nhiều công sức mà kết quả vẫn không được gì.
Khi kết quả không như ý, con người lại sinh tâm hận Trời, oán Đất, đánh mất niềm tin. Vậy tại sao ta phải tự làm mất đi niềm tin của chính mình? Chỉ cần giữ lại thêm một chút niềm tin, nhiều khi ta có thể tự giải quyết được mọi việc. Có những lúc, với trí óc sáng suốt và sự suy nghĩ chín chắn, chỉ cần nghĩ thêm một chút thôi cũng đủ để thấy mình cần phải làm gì để đạt được kết quả. Khi đã có thể tự mình làm được như vậy, thì cớ gì lại phải cầu xin?
Nếu tôi muốn cô gái ấy trở thành vợ mình, thì trước hết tôi phải cho cô ấy thấy rằng tôi xứng đáng đảm nhận vai trò làm chồng của cô. Tôi phải có những đức tánh cần thiết để trở thành một người chồng tốt, một người cha tốt; có khả năng làm trụ cột gia đình, biết lèo lái cuộc sống chung, và đủ bản lĩnh để đối diện với những phong ba bão táp của đời sống. Tôi phải thể hiện được những điều ấy để cô gái tự nguyện kính phục và lựa chọn tôi làm chồng, chứ không thể cầu xin Phật, cầu xin Bồ Tát để được cưới cô ấy làm vợ.
Nhiều người chỉ muốn sở hữu người khác, nhưng lại không biết cách xử sự sao cho phép Đối và Đãi được tương xứng. Khi đối và đãi đã tương xứng thì đâu cần phải cầu xin; còn khi sự chênh lệch vẫn quá lớn, thì dù có cầu xin bao nhiêu đi nữa, sự chênh lệch ấy vẫn không thể tự nhiên trở nên cân bằng.
Chúng sanh thường sống trong trạng thái ù lì, không chịu suy nghĩ xem: trước một khó khăn nào đó, mình phải đối phó ra sao, phải làm cách nào để vượt qua. Thay vào đó, người ta chỉ biết đi chùa, mang theo nải chuối, vài trái cây, đốt một nén hương rồi cầu xin. Hành động ấy dường như mang ý nghĩa: “Con đã trả lễ rồi, xin Phật và Bồ Tát lo suy nghĩ, giải quyết giùm cho con.”
Sống trong trạng thái như vậy thì làm sao tiến bộ được? Thể xác không tiến, tinh thần không tiến, mà tâm linh lại càng thụt lùi. Không có chỗ nào để tiến lên, bởi vì người ta đã đặt cái cày ở trước con trâu. Cái “cày” ấy chính là sự lười biếng, sự ù lì, sự buông xuôi và thói quen giao phó trách nhiệm.
Hãy thử tự hỏi: khi mình cầm trong tay một xấp tiền, có mấy ai vào chùa để cầu xin Phật chỉ cho mình cách sử dụng số tiền ấy sao cho đúng đắn, ích lợi? Phải dùng tiền ấy vào việc gì cho hợp đạo lý? Hầu như không có. Thông thường, số tiền ấy sẽ được dùng vào việc mua sắm, ăn uống xa hoa, casino, du lịch, nhà cửa, xe cộ, rượu đắt tiền, quán bar, thậm chí cả những việc không chánh đáng. Ít ai mong cầu được chỉ dạy cách sử dụng tiền bạc một cách có trí huệ.
Vì vậy, nói đến cầu xin thì gần như một trăm người là có đủ một trăm kiểu cầu xin. Có người cầu cho vui, được hay không cũng chẳng quan trọng; nhưng cũng có người quá chấp trước, cầu xin không được thì sinh ra chửi bới, xúc phạm. Họ cho rằng hễ đã cầu xin thì nhất định phải được, rằng Ơn Trên phải đứng sẵn đó, chờ họ cầu xong là “móc giỏ” thả xuống cho họ. Điều đó hoàn toàn không phải như vậy.
Sở dĩ như thế là vì người đời thiếu sự hiểu biết căn bản. Phần lớn không tin sâu vào Nhân Quả, Luân Hồi và Nghiệp Lực. Nếu thật sự tin vào Nghiệp Lực, Nhân Quả và Luân Hồi, thì người ta sẽ hiểu vì sao có người hơn mình, có người kém mình; tất cả đều do nghiệp lực chi phối. Vì vậy, việc cầu xin cũng còn phải tùy thuộc vào nghiệp lực của chính mình.
Có người chẳng cầu xin gì mà tự nhiên những điều may lành vẫn đến. Ngược lại, có người rơi vào hoàn cảnh vô cùng khốn khổ, cầu xin mãi vẫn không được gì; thậm chí cầu mong có người đi ngang đánh rơi vài đồng để nhặt lấy mua chút thức ăn lót dạ mà cũng không được. Khổ đến mức ấy, rồi họ sinh tâm oán Trời, trách Đất, cho rằng Thượng Đế vô tình, bỏ rơi chúng sanh, mà không bao giờ tự hỏi: “Ta phải làm gì để chuyển nghiệp của chính mình?” Bởi lẽ, khi đã chuyển được nghiệp rồi, thì đâu còn cần phải cầu xin nữa!
Thưa Sư Phụ, trong một trường hợp, thí dụ như có một người bị tai nạn, thương tích rất nặng, bạn bè hoặc thân quyến họp lại để cầu nguyện, khấn xin cho người ấy mau lành bệnh, hoặc vượt qua cơn hiểm nghèo, giải phẫu được thành công, thì việc cầu như vậy có được hay không?
Như Thầy đã nói lúc nãy, mọi sự cầu đều phải xuất phát từ sự rung động của Tâm Thức. Sự rung động của Thần Thức để đi về cõi Phật, cõi Trời hay cõi Người, không chỉ áp dụng cho Thần Thức của vong linh, mà người còn sống cũng phải có sự rung động ấy. Khi trong lồng ngực con cảm nhận được một chuyển động nào đó, kèm theo sự thổn thức của con tim; hoặc khi vừa nghe một câu chuyện liền khởi lên cảm xúc sâu xa, thì đó chính là sự rung động chân thật.
Nếu trong trường hợp này có ba người bạn, hay ba người thân, đem hết tâm thành của mình để cầu nguyện cho người bệnh vượt qua tai nạn, qua được cuộc giải phẫu, tỉnh lại sau cơn mê man, hay tìm được phương pháp điều trị thích hợp, thì điều đó không gọi là cầu xin, mà gọi là cầu nguyện.
Vậy cầu nguyện là gì?
Cầu nguyện là đem Tâm Thành và Tâm Lực của chính mình ra. Giống như việc siêu độ, ba người bạn ấy đem ba nguồn Tâm Lực hợp lại để trợ lực cho chính nội lực của người bệnh: giúp vết thương mau lành, giúp vượt qua cơn mê man, vượt qua sự nguy hiểm của ca giải phẫu, hoặc gặp được bác sĩ giỏi để sớm tìm ra phương cách cứu chữa. Tùy theo hoàn cảnh mà lời khấn nguyện được phát ra.
Đó là ba nguồn Tâm Lực hợp nhất, tạo thành một sức mạnh lớn, hỗ trợ và san sẻ lực cho người bệnh. Như vậy, đây chính là cầu nguyện, chứ không phải là cầu xin.
Thưa Sư Phụ, Sư Phụ có giảng về vấn đề Hòa Bình Thế Giới. Nếu vào những dịp như đầu năm hay lễ Giáng Sinh, người đời cùng nhau cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho đất nước được an lành, thì sự cầu nguyện ấy có góp phần vào Tâm Lực chung hay không, thưa Sư Phụ?
Điều này còn phải xét xem mức độ chân thành đến đâu. Nhiều người chỉ nói đến hòa bình bằng lời nói nơi cửa miệng, chứ không phải là hòa bình xuất phát từ Tâm Lực. Khi một vị chủ lễ tại nhà thờ, chùa chiền, hay một nơi hội họp đông người đứng ra hướng dẫn cầu nguyện cho hòa bình, thì vị ấy cần phải nói rõ mục đích như sau:
“Hôm nay, tất cả chúng ta tụ họp nơi đây để làm gì? Là để cầu nguyện cho hòa bình. Mà muốn cầu nguyện cho hòa bình thì điều đó phải xuất phát từ đâu? Phải xuất phát từ tâm nguyện của những người thật sự yêu hòa bình, yêu sự an ổn, yêu đời sống an cư lạc nghiệp. Vì vậy, nếu tất cả mọi người nơi đây đem trọn vẹn sự chân thành của mình để cầu nguyện cho nền hòa bình của xứ sở, thì Tâm Lực của mỗi người sẽ được phát khởi và gom tụ lại, tạo thành một sức mạnh có thể đẩy lùi những điều bất ổn, những yếu tố không tốt đẹp gây tai hại cho đất nước.
Do đó, nếu ai cảm thấy mình không thể đem trọn vẹn sự chân thật của mình vào sự cầu nguyện, thì có thể rời khỏi nơi đây để không mất thời gian. Còn những người ở lại, xin hãy đem hết Tâm Lực của mình mà cầu nguyện, để Tâm Lực ấy được phát ra, được gom tụ lại thành một luồng hào quang rực rỡ, đẩy lùi tất cả những điều đen tối, bất an đến với xứ sở của chúng ta.”
Nếu không có sự hướng dẫn như vậy, để mặc ai làm nấy, thì việc cầu nguyện khó có thể đem lại kết quả. Người chủ lễ bắt buộc phải nêu rõ điều này từ đầu, để khi cầu nguyện, mọi người cùng tập trung tư tưởng, gom Tâm Lực lại cho nó xuất ra từ đỉnh đầu, và tất cả Tâm Lực ấy hợp lại thành một hào quang lớn, mang theo sự an lành, vui vẻ, ấm áp và thành đạt cho xứ sở hay quốc gia đang được cầu nguyện. Luồng hào quang ấy sẽ lan tỏa khắp nơi.
Sự trợ giúp của Phật và Bồ Tát trong những trường hợp cầu nguyện như thế này chỉ là nâng đỡ Tâm Lực của đại chúng lên cao, chứ không phải là lấy sẵn trong giỏ ra rồi ban phát cho người này, người kia. Tâm Lực phải được nâng lên cao thì mới đủ sức chống chọi với những hiểm nguy; còn nếu là đà dưới đất thì làm sao chống chọi được.
Do chúng sanh không hiểu rõ điều này, nên khi đến chùa hay đến nhà thờ thì cứ xin cái này, xin cái kia. Có khi con cái không xin, cha mẹ còn nhắc bảo phải xin. Nhưng xin cái gì? Xin nhà cao cửa rộng ư? Nhà cửa là thành quả của sức lao động, của công sức làm việc, có thể là lao động thể xác hoặc lao động trí óc, chứ không phải từ trên trời rơi xuống, cũng không phải do Phật hay Bồ Tát móc trong giỏ ra cho.
Tiền bạc cũng vậy. Làm nhiều thì có nhiều tiền, làm ít thì có ít tiền; học cao, hiểu rộng thì kiếm được nhiều tiền; học ít, hiểu kém thì tiền ít. Ở địa vị cao thì lương cao, ở địa vị thấp thì lương thấp. Muốn có thu nhập cao thì phải cố gắng học hỏi, rèn luyện, phấn đấu để đứng ở vị trí cao hơn. Phật và Bồ Tát không thể móc tiền trong túi ra cho được. Trên thế giới có hàng tỷ người, làm sao có đủ tiền để phân phát, dù chỉ một đồng cho mỗi người?
Chúng sanh thường không chịu tư duy, chỉ làm theo cái vừa khởi lên trong đầu. Mà cái vừa khởi lên đó là gì? Chính là chữ Muốn, mà cái muốn ấy bắt nguồn từ tánh Tham. Thấy người ta có xe đẹp thì muốn có xe; thấy người ta có con chó đẹp thì muốn đem về nuôi; thấy người ta có gia đình êm ấm thì cũng muốn có cho mình.
Muốn quá nhiều thì tự chuốc lấy khổ đau. Cầu xin mãi không được thì sinh thất vọng, nản chí, rồi quay sang oán trách. Ít ai nghĩ rằng: thay vì bỏ thời gian cầu xin, tại sao không dùng thời gian ấy để học hỏi thêm, tăng thêm sức lao động? Trước kia làm một công việc, nay cố gắng làm thêm; nếu còn sức thì làm hai công việc. Tiền do mình làm ra thì mình tự sử dụng, đâu cần phải cầu xin ai.
Thưa Sư Phụ, nếu chúng sanh muốn cầu xin Ơn Trên thì nên cầu xin những gì?
Nếu muốn cầu xin, trước hết phải tự nhận định bản thân, xét xem thực chất của điều mình cầu xin là có hợp lý hay không. Phải tự hỏi: việc này ta có tự làm được hay không? Nếu còn có thể tự làm thì chưa cần cầu xin. Chỉ khi đã suy xét kỹ lưỡng như vậy, ta mới biết được điều gì là đáng cầu xin, điều gì là không đáng cầu xin.
Và cái đáng cầu xin ở đây không phải là xin được ban cho, mà là xin được tiếp sức: tiếp thêm can đảm, tiếp thêm nghị lực, tiếp thêm sự tự tin. Nếu xem đó là “được cho”, thì lập tức sinh so sánh: tại sao người này được nhiều, người kia được ít. Nhưng nếu hiểu đó là sự tiếp sức thì ai cũng được tiếp sức như nhau.
Thiếu tự tin thì được tiếp sức để có tự tin. Thiếu can đảm thì được tiếp sức để có can đảm. Yếu đuối thì được tiếp sức để trở nên mạnh mẽ hơn, cả về tinh thần lẫn thể xác. Vì vậy, phải nhớ rằng: cầu xin để được cho thì không có, nhưng cầu xin để được tiếp sức thì có.
Do đó, trước khi ngồi xuống cầu xin, bắt buộc phải nhận định rõ từng mong cầu của mình. Cầu xin tiền bạc thì nên gác sang một bên. Muốn có quyền uy thì trước hết phải có trí tuệ; muốn có trí tuệ thì phải học hỏi, nhẫn nại, bền chí. Học đến nơi đến chốn thì mới có thể đảm nhận những trách nhiệm lớn; không thể chỉ với trình độ thấp mà mong gánh vác công việc cao trọng.
Vì vậy, một khi đã biết được cái thực chất của việc cầu xin của mình rồi thì coi như là đoạn đường mình đi gần gần đến đích, mình biết mình sai ở điểm nào và mình cần phải sửa chữa ở điểm nào. Lúc ấy, sự cầu xin không còn là những ham muốn ích kỷ cho bản thân hay cho người thân nữa, mà chỉ nên cầu xin khi thật sự cần sự tiếp sức của chư Phật và Bồ Tát trong những việc chánh đáng mà thôi.
_________________________________________________________________
Trước thềm năm mới, LacPhap.com xin hân hoan cùng với tất cả quý chư Thiện Hữu đón mừng Xuân Bính Ngọ. Kính chúc Quý Thiện Hữu:
Tâm Xuân luôn ngời sáng,
Ý Xuân luôn rực rỡ,
Đạo Xuân luôn vững bền.